Những nghệ sĩ đã hình thành phong cách chơi bass của thế kỷ 20​ (P4)

0
141

Thập niên 70​
Bối cảnh & những nghệ sỹ

Dòng Fusion: Jaco Pastorius, Stanley Clarke, Alphonso Johnson, Steve Swallow, Michael Henderson (Miles Davis), Paul Jackson (Herbie Hancock’s Headhunters), Rick Laird (Mahavishnu Orchestra), Mervin Brunson (Larry Coryell’s 11th House), Percy Jones, Jeff Berlin
Dòng Prog/art rock: Chris Squire (Yes), Roger Waters (Pink Floyd), John Deacon (Queen), Jon Gustafson (Roxy Music), John Lodge (Moody Blues)
Dòng Funk: Larry Graham, Louis Johnson, Verdine White, George Porter Jr., Rocco Prestia, Marshall “Rock” Jones (Ohio Players), Robert “Kool” Bell (Kool & the Gang), Cedric Martin (Con Funk Shun), Mark Adams (Slave), Lequeint Jobe (Rose Royce)
Dòng P-Funk/Parliament/Funkadelic: William “Bootsy” Collins, Billy “Bass” Nelson, Cordell “Boogie” Mosson
Dòng Disco: Bernard Edwards (Chic), Janice Marie Johnson (A Taste Of Honey)
Dòng Punk: Paul Simonon (Clash), Dee Dee Ramone, Glen Matlock (Sex Pistols)
Dòng Hard rock/heavy metal: John Paul Jones (Led Zeppelin), Geezer Butler (Black Sabbath), Gene Simmons (Kiss), Tom Hamilton (Aerosmith), Steve Harris (Iron Maiden), Lemmy Kilminster (Motörhead), Cliff Williams (AC/DC)
Dòng Sessions – L.A.: Lee Sklar, Chuck Rainey, Max Bennett, Jerry Scheff, Bob Glaub, Chuck Domanico, Willie Weeks, Jim Hughart. New York: Will Lee, Anthony Jackson, Wilbur Bascomb, Herb Bushler, Gary King, Gordon Edwards, Sal Cuevas, Francisco Centeno, Neil Jason. Philly: Ron Baker, Jimmy Williams, Raymond Earl, Stanley Wade. Muscle Shoals/Memphis: David Hood, Bob Wray, Mike Leech, Tommy Cogbill. Nashville: Cogbill, Joe Osborn, Norbert Putnam, Henry Strzelecki, Joe Allen
Dòng Reggae: Aston “Family Man” Barrett, Robbie Shakespeare, Errol “Flabba” Holt, Boris Gardiner, George Fullwood, Lloyd Parks, Jackie Jackson
Dòng New jazz & avant-garde: Malachi Favors (Art Ensemble Of Chicago), Buell Neidlinger, Cecil McBee, Charlie Haden, Gary Peacock, Miroslav Vitous, Glen Moore, Dave Friesen
Dòng Post-bop: Stanley Clarke, Eddie Gomez, Niels-Henning Ørsted Pedersen, Ron Carter, Michael Moore, George Mraz

Những phát minh
Cần đàn Active và graphite-neck của Alembics, Carl Thompson Anthony Jackson Contrabass 6-string và Stanley Clarke piccolo bass, Music Man StingRay, Hamer 12-string, Polytone Mini-Brute amp, Musitronics Mu-Tron III envelope filter, Electro-Harmonix Bassballs

Stanley Clarke piccolo bass

Musicman Stingray

Hamer 12-string

Polytone Mini-Brute amp

[​IMG]

Musitronics Mu-Tron III envelope filter

[​IMG]

Electro-Harmonix Bassballs

Jaco Pastorius

“Jaco là một trong những tài năng hiếm có – giống Jimi Hendrix – là người đi trước tất cả mọi người.
– Jimmy Haslip, Tháng 9 năm ’97

[​IMG]

Sau thời của James Jamerson, thực sự không ai gây được sự ảnh hưởng cho các tay bass sau này như Jaco. Ông là người đã đưa cây bass điện tử lên đỉnh cao với các kỹ thuật đa dạng với một phong cách đặc biệt.
Đĩa nhạc đại diện
Word of Mouth, Warner Bros.; Jaco Pastorius, Epic. Chơi với Pat Metheny: Bright Size Life, ECM. Weather Report: Heavy Weather, Columbia. Joni Mitchell: Mingus, Asylum; Shadows & Light, Warner Bros.

Tài liệu nên đọc: Jaco: The Extraordinary & Tragic Life of Jaco Pastorius, “The World’s Greatest Bass Player”, của Miller Freeman.

Stanley Clarke
Là người nổi tiếng với sự nghiệp solo của mình mà không phải với một band nào đó. Ông chơi cả Bass điện tử và Double Bass, Album đầu tiên Return To Forever đã đánh dấu sự nghiệp là người chơi Double bass với các kỹ thuật tay phải đầy uy lực, đồng thời với kỹ thuật slap trên cây đàn bass đã đưa ông trở thành tay bass tiên phong.

[​IMG]

Đĩa nhạc đại diện
School Days, Epic. Return To Forever: Romantic Warrior, Columbia; Light as a Feather, Polydor.

(Còn tiếp….)

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây